Nhìn về những năm 1950…

Cuộc đời của một người Việt Nam sinh ở giai đoạn những năm 1950.

Với một người bình thường sinh trong những năm 1950 ở Việt Nam, họ sẽ và đã trải qua một tuổi thơ cũng như một giai đoạn chuẩn bị cho tuổi trưởng thành đầy khó khăn và vất vả. Cứ cho rằng tuổi trưởng thành là 18 tuổi, lúc đó sẽ là những năm 1968. Từ năm 1950 đến 1968 là những năm Việt Nam diễn ra chiến tranh khốc liệt với Pháp rồi đến Mỹ, biến động gia đình và biến động xã hội đã không thực sự cho phép họ có một môi trường để học tập, để mở rộng tầm mắt cũng như tư duy nhìn xa. Cuộc sống của họ cũng chỉ quanh quẩn với làm sao để có thể sống an toàn, làm sao để no bụng, làm sao để gánh vác gia đình khi chẳng may cha, mẹ hay cả hai đều bị chiến tranh cướp đi.

redsvn-hoi-an-1950-00 Nhìn về những năm 1950...

Đến tuổi trưởng thành hay đến tuổi kết hôn, cũng như cha mẹ, họ cũng không có ý thức “Kế hoạch hoá gia đình”, “Chỉ hai con để nuôi dạy cho tốt” hay “Dù gái hay trai chỉ hai là đủ” mà là “trời sinh voi sinh cỏ”, “trời cho thì nhận” và cũng với lo sợ không biết sống được bao nhiêu nên họ có một đàn con. Ít thì bốn, năm đứa; nhiều thì chín, mười đứa; có gia đình còn có đến mười mấy, hai mươi đứa. Mỗi người là một miệng ăn nhưng cũng là một sức lao động. Mỗi người đều “cắm mặt cho đất, bán lưng cho trời” ngay từ ngày bắt đầu đi vững và cứ thế lớn lên trong kham khổ, khó khăn. Gia đình nào có đất nhiều thì còn tốt, gia đình ít đất thì cuộc sống lại ngày càng gian nan vì không đủ ăn.

dan-sieu-xe-ruoc-dau-tai-viet-nam-tu-1950-den-hien-tai-5 Nhìn về những năm 1950...

Việt Nam là một nước nông nghiệp, trước 1975, 95% dân đều là nông dân. Nhưng đi qua những ngày tháng thăng trầm của chiến tranh, năng lực sản xuất, nuôi trồng đều ở mức thấp nhất. Dưới ảnh hưởng thời tiết thất thường của hạn hán, mưa bão, lũ lụt diễn ra hàng năm của một xứ nhiệt đới tiếp giáp với biển xuyên suốt chiều dài đất nước, công việc của người nông dân Việt Nam (đa phần là dân số thời bấy giờ) đã ở mức không thể nuôi sống được nửa con người.

phố-cổ-hội-an-1024x655 Nhìn về những năm 1950...

Sau khi giành lại chính quyền năm 1975, đã có vô số chính sách ủng hộ nông nghiệp, trợ giúp nông nghiệp cũng như các máy móc thiết bị hỗ trợ, nhưng mãi cho đến 1979, 1980, sản lượng nông nghiệp mới bắt đầu khởi sắc. Lúc này, trong gia đình của người Việt Nam đã có thế hệ thứ ba, tuy rằng thế hệ thứ hai đã hơi bắt đầu có ý thức và kết hôn muộn hơn, sinh ít con hơn nhưng gánh nặng cuộc sống vẫn oằng lên đôi vai của những con người ấy với vai trò là cha, là mẹ, là ông bà. Đất ít, con đông, cháu nhiều, cuộc sống không thể trải qua nếu cứ mãi bám đất, họ đành phải di cư đến thành phố lớn, những vùng đất khác để tìm kế sinh nhai với hi vọng tìm được vùng đất hứa.

Khi di cư đến nơi “đất lạ quê người”, họ nắm trong tay một chút tiền, không bằng cấp, không kiến thức chuyên môn, không người quen biết và một đàn con chờ ăn. Con đường duy nhất mà cuộc đời trải trước mắt họ, đơn giản nhất là bán sức lao động của mình với giá rẻ: lao công, bảo vệ, bốc vác, bưng bê, phụ hồ, kéo xe,… hay công nhân trong các xưởng hợp tác trong thời gian sau này. Môi trường làm việc nặng nhọc, nguy hiểm nhưng lại không có đồ bảo hộ, không kỹ năng bảo vệ mình hay các khoảng dự phòng tai nạn. Họ cứ cố gắng, cố gắng chỉ để cốt có thể cho gia đình có cuộc sống tốt hơn. Họ không có thời gian cũng như sức lực để có thể trao dồi hay rèn luyện bản thân. Mọi thời gian của họ đều là đang làm việc. Những công việc chân tay đang đòi hỏi bóc dần sức lực tuổi trẻ, cơ bắp mệt mỏi dưới làn da đen đúa cháy nắng, đôi mắt mờ dần và tâm hồn chết lặng trước “cơm áo gạo tiền” qua mỗi ngày. Họ cũng biết và bắt đầu cố gắng cho con họ học tập, rèn luyện, chăm sóc cơ thể và gánh nặng cũng vì thế mà càng nặng nề hơn. Nhưng với tấm lòng của cha mẹ Việt, họ phổ biến với tinh thần “Hi sinh đời trước để củng cố đời sau”. Hầu hết họ, không cố gắng trau dồi thêm tự thân những kỹ năng khác mà chỉ cố gắng cho công việc trước mắt. Làm xong việc là chỉ còn sức để về ăn uống một chút rồi nghỉ ngơi. Thời gian trôi qua, họ vẫn cố gắng cho mỗi bước đi ngắn, nặng nề và chậm chạp.

redsvn-saigon-1950 Nhìn về những năm 1950...

Con lớn lên, họ hết gánh nặng của con. Nhưng bấy giờ, ngược lại, họ không muốn làm gánh nặng của con, hay một số hoàn cảnh là tự ái, là tự trọng, họ tiếp tục đem tấm thân đã gầy yếu vì chịu thời gian mài mòn ra tiếp tục lao động nuôi sống bản thân. Họ run run mà gánh những gánh hàng nặng để đi bán, đôi tay gầy rộc nâng những xô hồ nặng, vẫn dùng đôi vai lộ cả xương ấy ra hứng nắng, hứng gió mưa chỉ vì miếng ăn, vì cuộc sống. Không có một khoản tiền tiết kiệm hay một quỹ bảo trợ xã hội nào có thể cho họ dựa vào. Họ chỉ biết “sống được ngày nào hay ngày ấy”. Tương lai là một thứ hư vô, mờ mịt. Thậm chí còn có người còn không biết, mai kia, khi đi rồi, có ai sẽ rủ lòng thương mà quấn cho mình tấm chiếu trước khi chôn không.

redsvn-saigon-1950-01 Nhìn về những năm 1950...

Những người già, những lao động nghèo của Việt Nam vẫn đang hiện hữu. Các chỉ số giảm nghèo vẫn đang có xu hướng tích cực. Chiều 05/04/2018, theo công bố Báo cáo: Giảm nghèo và thịnh vượng chung ở Việt Nam: mỗi năm có khoảng 1.5 triệu người Việt Nam gia nhập tầng lớp trung lưu toàn cầu, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quốc tế đã giảm thêm 1,51% từ năm 2016 sang 2017. Nhưng, với những người sinh trong giai đoạn 1950, những nạn dân của chiến tranh, của môi trường xã hội, đến nay là khoảng tầm 65 – 70, độ tuổi mà đáng ra nên nghỉ ngơi, nên cười vui cùng con cháu, đã không còn sức lao động, cơ thể yếu sức, bệnh tật, không nơi nương tựa, không tiền. Những lao động già ở tầng lớp nghèo, họ sẽ đi về đâu?

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of